Nước sắc và trà dươc thảo trong Tây y
|
|
|
|
Trong chúng ta ai cũng đă nếm mùi vị đắng của nước sắc / trà dươc thảo (tisane medicinale- herbal tea/infusion/decoction), đắng đến nỗi đôi khi phải thêm chất ly trích từ chanh hay các trái cây phơi khô vào để làm dịu bớt.
Nhưng dù đắng đến đâu cũng không có nước sắc/ trà dươc thảo nào có thể chữa lành bệnh. Tuy nhiên nhà dinh dưỡng học Hélène Baribeau cho biết nước sắc /trà dươc thảo có thể làm nhẹ cảm giác khó chiụ trong người, giảm bớt một số triệu chứng bệnh tật hay cải thiện t́nh trạng sức khỏe . Bà nói “ Các chất thiên nhiên này chỉ có lợi ích đối với nhưng rối loạn về sức khoẻ không thể gọi là bệnh theo đúng định nghĩa của nó mà y hoc không có giải đáp”
Bà Baribeau vừa mới hoàn tất một danh sách gồm khoảng muời lăm loại dươc thảo mà hiệu năng trị bênh đă được ghi chú môt cách khoa học. Bà cho biêt là các lợi ích của nhiêu loại dươc thảo chỉ dựa theo kinh nghiệm chứ chưa có thử nghiệm lâm sàng.
Chúng ta hăy xem trường hợp các rối loạn về đường tiêu hóa. Các loại dươc thảo nên dùng là bạc hà (menthe), ạc-ti-sô ( artichaud) hay chamomile (camomille allemande) , nhưng những người hay bị ợ chua th́ không nên dùng bạc hà.
|
|
|
|
|
|
|
|
Bạc hà |
Ac-ti-sô |
Camomille (chamomile) |
|
Theo bà Baribeau th́ không nên mua dược thảo tại những địa điểm không có dịch vụ cố vấn chuyên nghiệp và cần phải cho bác sĩ/ dươc sĩ của ḿnh biết những chất thiên nhiên sử dung để xem có ảnh hưởng hay tương tác với thuốc đang dùng hay không.
Các chứng buồn nôn và ói mửa của sản phụ có thể giảm bớt nhờ vào gừng (gingembre- ginger)) Dù thích hay không người ta thường thấy vị hơi cay của chất này trong các món ăn á châu.
Sơn trà (aubépine—hawthorn) cũng đă đươc chứng tỏ là có lợi ích cho bệnh yếu tim nhẹ. Muốn làm dịu bớt những cơn bừng nóng vào thời kỳ măn kinh có thể dùng đan sâm (sauge-sage). Camomille (chamomile) có hiêu nghiệm đối với bệnh nhức nửa bên đầu (migraine-migrane)
|
|
|
|
|
|
|
Sơn trà |
Đan sâm |
|
Nhân sâm (ginseng) kích thích hệ miễn dịch và có thể giúp ngăn ngừa bệnh cảm lạnh (rhume- cold).Tuy nhiên nhân sâm không phải là chất kích dục (aphrodisiaque- aphrodisiac) như người ta vẫn tưởng từ lâu.
Millepertuis (St.-John’s-worth) có thể giúp trị bệnh trầm cảm nhẹ. Chất này khi sắc lên kém hiệu nghiệm hơn là dưới dạng thuốc viên. Không nên uống chất này cùng với thuốc kê toa bác sĩ v́ có thể gây tác dụng lẫn lộn không tốt.
|
|
|
|
|
|
|
Nhân sâm |
St.-John’s worth |
|
Liễu trắng (saule blanc- common willow) có tác dụng trị liệu đối với chứng đau ngang thắt lưng trong khi griffe du diable (devil’s claw) có thể giảm các triệu chứng viêm khớp. Tuy nhiên nên tránh dùng griffe du diable khi ơ chua, dạ dày bị nóng, hay uống thuốc chống viêm
Nước sắc trái dẻ ( maronnier d’Inde-horsechestnut ) có thể làm mất cảm giác năng nề nơi chân do tĩnh mạch yếu ( gây nên bệnh giăn tĩnh mạch) . Nước sắc hạt dẻ này củng cố thành các mạch máu nhưng không làm mất t́nh trạng giăn tĩnh mach đươc.
|
|
|
|
|
|
|
|
liễu trăng |
Devil’s claw |
Horse chestnut |
|
Nếu bị mất ngủ nhiều bạn nên chiụ đắng uống nước sắc rễ cây nữ lang (valeriane-valerian)
Oải thương (lavande) có mùi thơm dễ chịu rất tốt cho chứng ưu tư bồn chồn.
|
|
|
|
|
|
|
valeriane |
lavande |
|
Sau hết nước sắc thià là ( fenouil-fennel) hay tiá tô (melisse -balm) có thể giảm cơn đau bụng nơi trẻ sơ sinh. Dĩ nhiên người mẹ phải uống để rồi truyền lơi ích của dược thảo cho con qua sữa ḿnh.
|
|
|
|
|
|
|
Th́a là |
Tía tô |
|
Efficaces, les tisanes médicinales?- La Tribune Québec- 19/03/08