Gan và các bệnh viêm gan

Đại cương về gan

Gan (liver) là cơ quan lớn nhất trong cơ thể ( nếu không kể da) nằm bên tay mặt, dưới lồng ngực phải. 

Gan là "nhà máy lọc máu" chính và quan trọng nhất trong cơ thể. Gan  tiếp nhận máu từ hai nguồn khác nhau: 30% từ tim và 70% từ tĩnh mạch cửa (portal vein). Máu từ tim với  dưỡng khí và nhiên liệu sẽ nuôi dưỡng các tế bào gan. Máu đến từ tĩnh mạch cửa là máu đến từ những cơ quan như bao tử , lá lách , tụy tạng , túi mật , ruột non , ruột già  cũng như các cơ quan khác nhau trong bụng.

Gan là cơ quan đầu tiên tiếp nhận các chất dinh dưỡng và hóa tố khác nhau hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa nên thức ăn và tất cả các nhiên liệu phải đi qua gan trước để được thanh lọc và biến chế thành những vật liệu khác nhau. Nói chung gan có những nhiệm vụ chinh là chuyển hoá chất đường, sản xuất và chuyển hoá chất béo, sản xuất và thoái biến chất đạm,thanh lọc các độc tố và tổng hợp chất mật.

Cũng như tất cả các cơ quan khác trong cơ thể gan cũng có thể bị tàn phá bởi độc tố, vi trùng, vi khuẩn và nhiểu bệnh tật khác nhau. Nhưng v́ các tế bào gan không có dây thần kinh cảm giác, nên nếu gan bị tổn thương, bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào  chỉ.  trừ trường hợp gan bị "sưng phồng" lên làm vỏ bọc gan bị kéo căng  gây ra những cơn đau "tưng tức" hoặc khó chịu ở vùng bụng trên vể phía taymặt.

 

Bệnh viêm gan do siêu vi khuẩn (viral hepatitis).

Viêm gan (xưng gan) rất nguy hiểm v́ nó âm thầm lặng lẽ phá hoại gan mà bệnh nhân không có hoặc rất ít có triệu chứng rơ rệt cho đến khi bệnh phát nặng

Có năm loại viêm gan do siêu vi khuẩn. Đó là các viêm gan A,B,C,D và E

Viêm gan A

Siêu vi khuẩn viêm gan A được t́m thấy trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu, nhưng nhiều nhất vẫn là ở phân của người có bệnh. Siêu vi khuẩn viêm gan A theo thức ăn, nước uống nhiễm khuẩn xâm nhập vào cơ thể của chúng ta.

Bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào, và nếu có, không cần chữa tự nhiên cũng hết. Siêu vi khuẩn viêm gan A chỉ gây sưng gan cấp tính (acute inflammation) chứ không tạo nên những biến chứng lâu dài, như sơ gan (fibrosis), chai gan (cirrhosis), hoặc ung thư gan (cancer)

Bệnh có thể chích ngừa được. Thuốc rất an toàn và công hiệu.            Nếu chưa  chích ngừa hoặc trong người chưa có  kháng thể chống siêu vi khuẩn viêm gan A, th́ các bạn phải giữ vệ sinh ( rửa tay bằng xà bông trước và sau khi  dùng nhà cẩu, rửa tay cẫn thận trườc và sau khi ăn hay làm bếp,  rửa sạch các bát đĩa của người bệnh) và  tránh quan hệ t́nh dục  với người  đang ở thời kỳ ủ bệnh

Viêm gan B

Bệnh viêm gan B là bệnh truyền nhiễm, nên tất cả chúng ta ai ai cũng có thể bị, không kể tuổi tác. Siêu vi khuẩn viêm gan B được t́m thấy trong máu, mồ hôi, nước bọt, nước mắt cũng như nước tiểu và tinh dịch của bệnh nhân.  Bệnh thường lây trực tiếp từ người này qua người kia . dễ dàng nhất là qua máu ( như  lây từ mẹ khi mới sanh, tiếp máu, dùng kim chích và dung cu y khoa thiếu vệ sinh, hoặc bị nhiểm qua vết trầy trụa hay côn trùng) và qua đường  sinh lư (tinh dịch). Chung đụng trong đời sống hằng ngày ,như đụng vào mồ hôi nước mắt của người bệnh, cũng có thể bị lây. Tuy  trong nước bọt của bệnh nhân viêm gan B cũng thấy có một số ít vi khuẩn nhưng cho tới nay chưa ai bị lây bệnh viêm gan B khi ăn uống chung với người có bệnh.

Siêu vi khuẩn viêm gan B có thể gây ra những triệu chứng cấp tính. Những triệu chứng này thay đổi nhiều, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân khi bị lây bệnh.  Bệnh có thể từ rất nhẹ và mơ hồ như những cơn cảm cúm thông thường không đáng kể đến rất nặng phải nhập viện để điều trị.                                                               Viêm gan B là một trong những nguyên nhân chính gây ra viêm gan cấp tính (acute hepatitis), viêm gan kinh niên (chronic active hepatitis), chai gan (liver cirrhosis) và ung thư gan (liver cancer).   Rượu, bia và một số thuốc men trong đó có dược thảo có thể làm gan bị chai lẹ hơn.

Phương pháp duy nhất để định bệnh viêm gan B là thử máu. Các      phép thử nghiệm khác như  siêu âm ,. chụp scan  chỉ cho biết thể chất  h́nh thù và kích thước của gan ,c̣n sinh thiết gan chỉ giúp bác sĩ biết về sự tiến triển và trang thái bệnh tật của gan

Bệnh có thể được chữa trị bằng thuốc uống (lamivudine, adefovir , zadaxin thymosin alpha 1) hoặc thuốc chích dưới da (interferon) Tuy cách thức chữa bệnh đă được cải tiến rất nhiều nhưng c ũng chỉ có khả năng giảm thiểu sự tàn phá của siêu vị khuẩn viêm gan B chứ không hoàn toàn loại bỏ siêu vi khuẩn này ra khỏi cơ thể.     V́ thế hơn lúc nào hết, pḥng bệnh vẫn hơn chữa bệnh. Thuốc chủng ngừa rất hiệu nghiệm nếu được chích ngừa đúng cách (chích 3 mũi). Ngoài ra các kim chích và dụng  cụ y khoa phi được  khử trùng đề  tiêu diệt siêu vi khuẩn viêm gan B bẳng cách đun sôi ở100 độ C trong ṿng 1 đến 5 phút, hoặc sát trùng bằng glutaraldehyde, chloroform hoặc formalin ( tia cực tím , ether cũng như alcohol không đủ mạnh).

Viêm gan C

Bệnh viêm gan C là bệnh truyền nhiễm  nên chúng ta ai ai cũng có thể bị. Bệnh có thể lây qua máu như từ mẹ khi mới sanh, tiếp máu, dùng các  vật dung  thiếu  vệ sinh như  đồ cạo râu,bàn chải đánh răng, kim châm cứu, xâm ḿnh, cạo  gió và các dụng cụ mổ xẻ . Bệnh cũng có thể lây qua       đường sinh lư , nhưng trường hợp này hiếm. Đôi khi người ta có thể vô t́nh bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan C  trong lúc té ngă, trầy trụa hoặc đứt tay chân . Tuy một số siêu vi khuẩn viêm gan C được t́m thấy trong mồ hôi và nước bọt nhưng , ăn uống chung hoặc va chạm thể xác  hàng ngày với bệnh nhân viêm gan C không có ǵ  nguy hiểm.

Siêu vi khuẩn viêm gan C có thể gây ra những triệu chứng cấp tính thông thường 7 hay 8 tuần sau khi lây bệnh. Khoảng 30% bênh nhân bỗng dưng cảm thấy hơi khó chịu như bị cúm nhẹ. Một số bệnh nhân khác có thể bị nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức khớp xương và bắp thịt. Nhiều khi họ cũng cảm thấy buồn nôn, khó chịu, đau bụng, tiêu chảy, ăn kém ngon, xuống cân và đôi khi bị sốt hoặc nổi ngứa. Khoảng 30% bệnh nhân viêm gan C có da và mắt trở nên vàng . Các triệu chứng nêu      trên thường kéo dài từ 6 đến 8 tuần và từ từ thuyên giảm, rồi hoàn toàn biến mất sau một thời gian ngắn. Bấy giờ, bệnh chuyn qua giai đoạn hoặc im ĺm tức không hoạt động  (dormant) hoặc mạn tính tức  tiếp tục tăng trưởng(chronic). Trong thời kỳ sơ khởi của giai đoạn mạn  tính vẫn chỉ có những triêu chứng mơ hồ không đáng kể  như là mệt mỏi thường vào xế chiều , mất dần khả năng tập trung tư tưởng , đau lâm râm hoặc đau nhói phần bụng trên dưới xương sườn bên phải hoặc buồn nôn, khó chịu, da nổi ngứa, đau khớp xương và bắp thịt. Nếu không được khám phá và chữa trị kịp thời, bệnh mỗi ngày một nặng hơn đưa đến sơ gan, rồi chai gan sau  một  thời gian trung b́nh là 20 năm. Thời gian chai gan có thể ngắn hơn nếu  bệnh nhân đă bị  lây  do tiếp máu nhiễm khuẩn , uống nhiều rượu bia, uống   một  số thuốc khác nhau hoặc bị nhiễm  nhiều loại vi khuẩn viêm gan khác nhau.

Thử máu định kỳ hằng năm  là phương pháp thường xuyên nhất trong việc  t́m kiếm bệnh viêm gan C. Phép siêu âm gan không cho biết gan bị viêm hay không nhưng  giúp bác sĩ có một khái niệm về h́nh thù và kích thước của gan ( gan bị chai có thể  nhỏ hơn b́nh thường) và nhận diện được một số bệnh khác, như bướu gan (tumor), sạn trong túi mật (gallstone), gan đóng mỡ (fatty liver) hoặc  cổ trướng (ascites).  Ngoài ra sinh thiết gan có thể mang lại cho bác sĩ nhiều dữ kiện quan trọng trong việc định bệnh và chữa bệnh viêm gan

 

 

Tế bào gan sẽ được lấy ra bằng một kim rất nhỏ, đâm giữa xương sườn vào thẳng lá gan  rổi đem thử nghiệm dưới kính hiển vi.

                      

Viêm gan C có thể đươc chữa trị bẳng thuốc uống (ribavarin) và thuốc chích dưới  da (peginterferon, zadaxin (thymosin  alpha 1)) . Hai thuốc ribavarin và interferon gây nhiều phản ứng phụ, con thuốc mới zadaxin (thymosin alpha 1) đươc xem là an toàn, gây ít phản ứng phụ               Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa chống viêm gan C

Viêm gan D

Viêm gan D là một bệnh truyền nhiễm "có điều kiện" , nói một cách khác chỉ nguy hiểm cho những người đang hoặc sẽ bị bệnh viêm gan B mà thôi. V́ vậy những người được miễn nhiễm bệnh viêm gan B sẽ không sợ bị lây  bệnh viêm gan D.  Viêm gan D thường lây qua đường máu và đường sinh lư. Tuy nhiên, bệnh chỉ lây qua những người đang bị viêm gan B với kháng nguyên HBsAg mà thôi. Trong những năm gần đây, chích thuốc phiện đă trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh viêm gan D, nhất là khi những người nghiện thuốc này dùng chung kim với nhau.                                      

Triệu chứng của viêm gan D lệ thuộc vào t́nh trạng nhiễm vi khuẩn viêm gan B của lá gan. Nếu vi khuẩn viêm gan B đang tàn phá lá gan, siêu vi khuẩn viêm gan D cũng "đánh ké". Nếu vi khuẩn viêm gan B bị tiêu diệt bởi hệ  miễn dịch của bệnh nhân th́ vi khuẩn viêm gan D cũng sẽ "chết theo".

1-- Bệnh nhân có thể cùng một lúc lây cả hai bệnh viêm gan B và D (đồng nhiễm-coinfection).  viêm gan D thường gây ra những triệu chứng tương tự như bệnh viêm gan B nên khi cơ thể bị tấn công một lúc bởi hai loại siêu vi khuẩn viêm B và D các triệu chứng có thể trầm trọng hơn, và bệnh có thể kéo dài hơn.  Bệnh nhân bị nhiễm cùng một lúcviêm gan B và D sẽ có một số triệu chứng điển h́nh của bệnh viêm gan B trước, rồi sau đó, khi bệnh có vẻ như đang thuyên giảm th́ các triệu chứng như vàng da, nhức đầu, buồn nôn, chóng mặt v.v. bắt đầu trở lại do đợt tấn công thứ hai; lần này do siêu vi khuẩn viêm gan D  Tùy theo tuổi tác khi bị lây bệnh, những triệu chứng kể trên có thể rất rơ rệt hoặc mơ hồ.

2- Bệnh nhân đang bị viêm gan B bị lây thêm bệnh viêm gan D ( Bội nhiễm- superinfection): Đây là trường hợp rất nguy hiểm Với sự bành trướng của siêu  vi khuẩn viêm gan D trong một cơ thể đang bị nhiễm trùng bởi siêu vi khuẩn viêm gan B, bệnh sẽ trở nên rất trầm trọng với những hậu quả vô cùng tai hại trong một thời gian rất ngắn. Ngay cả trong trường hợp  siêu vi khuẩn  B đang "ngủ yên", (dormant) siêu vi khuẩn  D có   thể       đánh thức v à  cả  hai sẽ  hợp lực tàn phá  lá  gan. nhanh chóng (từ 3 đến 5 năm),                                          

Cũng như các bệnh viêm gan siêu vi khuẩn khác, thử máu là phương pháp độc nhất và chính xác nhất trong việc định bệnh viêm gan D. Phép siêu âm cũng hữu ích                                                                                          

V́ viêm gan D cấp tính dễ trở thành ác tính, bệnh nhân cần được theo dơi một cách kỹ lưỡng. Khi bệnh trở nên ác tính, bệnh nhân bắt đầu có những triệu chứng của loạn trí như mất dần tự chủ, chóng quên, ăn nói "lung tung" hoặc nặng hơn nữa, sẽ bị hôn mê, bất tỉnh v.v. Khi máu trở nên quá loăng, họ có thể bị chảy máu cam, ói ra máu, đi cầu phân đen như mực, da dễ bị bầm tím. Trong trường hợp này, bệnh nhân phải được đưa vào cấp cứu v́ gan có thể bị tàn phá một cách rất nhanh chóng và nếu không được ghép gan, bệnh nhân có thể chết . Khác với bệnh viêm gan B bệnh viêm gan D có khuynh hướng trở thành kinh niên  nếu không chữa trị , để rồi tiếp tục tàn phá lá gan. Vi khuẩn viêm gan D được xem là một trong những vi khuẩn viêm gan dữ tợn và nguy hiểm nhất,                                                                                                                                                            

Cho tới nay, chỉ có một thứ thuốc duy nhất được chấp thuận bởi FDA trong việc chữa trị bệnh viêm gan D: Đó là Interferon alpha Thuốc được dùng cho cả hai trường hợp: viêm gan D mạn tính và cấp tính Viêm gan D chỉ lây qua những ai chưa có kháng thể chống lại vi khuẩn viêm gan B. V́ thế, chủng ngừa viêm gan B là phương pháp hữu hiệu nhất để pḥng bệnh viêm gan D. Tuy nhiên hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa bệnh viêm gan D cho những người đang bị bệnh viêm gan B.

Viêm gan E

V́ viêm gan E là bệnh truyền nhiễm nên chúng ta ai cũng có thể bị. Tương tự như bệnh viêm gan A, bệnh lây từ người này qua người kia qua thức ăn và nước uống nhiễm vi khuẩn  E. Bệnh dễ lây nhất qua phân  So với bệnh viêm gan A, bệnh viêm gan E khó lây hơn Bệnh đôi khi lây qua máu và rất hiếm khi qua đường sinh lư.

Thông thường triệu chứng của bệnh viêm gan E chỉ rất nhẹ và nhất thời, kéo dài từ vài ngày đến vài tuần lễ. Bệnh không gây ra những hậu quả lâu dài, như trong trường hợp của bệnh viêm gan B, D và C. Tuy nhiên bệnh có thể trở nên ác tính và nguy hiểm, nhất là khi bệnh nhân đang mang thai   Thời gian ủ bệnh kéo dài từ 15 đến 60 ngày sau khi nhiễm siêu vi khuẩn. Thông thường bệnh nhân bắt đầu bị hâm hấp sốt, mệt mỏi, đau nhức toàn thân như cảm cúm. Sau đó, da và mắt trở nên vàng, nước tiểu trở nên đậm mầu, phân có mầu nhạt như đất sét, bụng đau lâm râm, khó chịu, buồn nôn và ói mửa. Một số ít bệnh nhân bị tiêu chảy, nổi mề đay và đau khớp xương. Cũng như bệnh viêm gan A, đa số bệnh nhân không cần chữa, bệnh tự nhiên từ từ giảm dần và biến mất. Chỉ trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, gan bị tàn phá một cách rất nhanh chóng và bệnh nhân có thể chết  nếu không được ghép gan.

Thử máu  là phương pháp độc nhất để định bệnh viêm gan E

Thông thường bệnh chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn, và bệnh không cần chữa tự nhiên cũng hết. Các triệu chứng của bệnh có thể được chữa trị tùy theo t́nh trạng của mỗi bệnh nhân Tuy nhiên nếu bệnh trở nên ác tính, ghép gan là phương pháp độc nhất để có thể cứu được mạng sống của bệnh nhân.                                                                                          Cho tới nay, người ta vẫn chưa khám phá ra thuốc chích ngừa bệnh viêm gan E. V́ thế, giữ vệ sinh là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn sự bành trướng của căn bệnh đáng ngại này.

Vấn để dinh dưỡng của các ngưởi bị viêm gan

Thông thường, khi cơ thể chúng ta c̣n khỏe mạnh, chưa bệnh tật, ăn uống bừa băi cẩu thả cũng chỉ gây ra một số hậu quả không tốt cho sức khoẻ nếu chúng ta tiếp tục ngày này qua tháng nọ. Tuy nhiên, vấn đề dinh dưỡng trở nên vô cùng quan trọng khi gan của chúng ta bị viêm, không c̣n tốt như trước nữa

Dinh dưỡng cho người bệnh viêm gan được phân biệt tùy theo bệnh trạng của mỗi cá nhân:

Viêm gan cấp tính (acute hepatitis)

V́ người bị viêm gan cấp tính thường có các biểu hiện mệt mỏi, đau nhức cơ khớp, có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như ậm ạch, đầy hơi, khó chịu, chậm tiêu, buồn nôn và nôn... Các triệu chứng này kéo dài vài ngày đến vài tuần. Giai đoạn này bệnh nhân nên ăn uống nhẹ,  ăn làm nhiều bữa và sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu. Cần lưu ư, các biểu hiện trên thường dễ chịu hơn vào buổi sáng, v́ vậy bệnh nhân nên ăn vào buổi sáng nhiều hơn. Tránh ăn các thức ăn nhiều gia vị, dầu, mỡ. Cần ăn nhiều các loại protein được nấu nhừ, bên cạnh đó cũng cần ăn các chất có sơ như cam, cà rốt, chuối, gạo lứt, đậu đỏ, các loại rau xanh...

Trong giai đoạn này bệnh nhân cũng nên uống nhiều nước, đặc biệt nước cam, nước chanh vừa tăng lượng sinh tố, vừa tăng lượng nước của cơ thể. Tuyệt đối không được sử dụng rượu bia trong giai đoạn này dưới mọi h́nh thức v́ chúng là các chất rất có hại cho tế bào gan.

Nếu phải dùng thuốc, nên dùng càng ít càng tốt

Trong trường hợp viêm gan cấp tính mức độ nặng, bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện để có được chế độ điều trị và chăm sóc hợp lư.

 

           Viêm gan mạn tính hay kinh niên (chronic hepatitis)

Thực phẩm sử dụng cần hết sức đa dạng trong các nhóm như rau, củ, quả, ngũ cốc, sữa và chế phẩm từ sữa, thịt cá hay trứng. Thức ăn cần cung cấp đủ năng lượng cho bệnh nhân, phù hợp với trọng lượng chiều cao và hoạt động của cơ thể. Cần cung cấp đủ lượng protein cần thiết để tấn công bệnh tật, tái tạo gan và không thất thoát các chất cơ. Các thức ăn cần có nhiều vitamin A (như gan gà, gan lợn...) và vitamin C (cam, quưt, rau sống...)

Rau củ và trái cây cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất. Mỗi ngày nên ăn ít nhất một loại rau có màu xanh đậm và một loại rau có màu cam (cà rốt, cà chua, bí đỏ...).

Mỗi ngày bệnh nhân nên dùng khoảng 500ml sữa để có đủ vitamin D ( có thể sử dụng chế phẩm của sữa như sữa chua, pho- mát).

 Mỗi ngày dùng 75g thịt hay cá, trứng. Nên ăn cá béo giàu omega – 3. Thịt cung cấp các chất như protid, lipid và các chất khoáng như sắt, kẽm, magiê..., nên dùng thịt tươi, không nên dùng thịt hộp, thịt nguội.

Nên dùng dầu thực vật, dầu đậu nành, dầu mè.

Tuyệt đối bỏ rượu để bảo vệ tế bào gan và giúp gan chóng b́nh phục và giảm thiếu tối đa các chất quá béo quá ngọt.

      Nên uống thêm thuốc bổ, nhưng nên tránh thuốc có chứa nhiều chất sắt.

          Vitamin A: 10,000 đến 25,000 IU mỗi ngày
          Vitamin D: 5,000 đến 8,000 IU mỗi ngày
          Vitamin E: 50 đến 400 IU mỗi ngày
          Vitamin C: 100 mg mỗi ngày
          Các chất khoáng: một viên multivitamin loại ngày một viên
          Calcium 1,000 đến 2,000 mg mỗi ngày

Cần siêu âm gan đ, kiểm tra chức năng gan định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần để kịp thời phát hiện và điều trị các biến chứng

       Hepatitis-Wikipedia                                                                                                                         Sống với bệnh viêm gan- BS Christopher Bùi xuân Dương                                                                       Chế độ ăn cho ngưởi mắc bệnh viêm gan- Bacsi.com

 

Ghi chú

1- Bảng tóm tắt thông tin về siêu vi khuẩn A, B v à C

www.ethnomed.org/ethnomed/patient_ed/viet/abc_hep_03.pdf

2-  Bệnh viêm gan với y học cổ truyền

www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/benhhoc/htmdocs/Benh_VanG/GanViem.htm

3-  Các loại viêm gan không phải do siêu vi khuẩn

Có hai loai chính: viêm gan do rượu (alcoholic hepatitis) và viêm gan do đôc tố và thuốc (toxic/drug-induced hepatitis). Ngoài ra c̣n hai loại không mấy thông thường ; viêm gan tự miển dich (autoimmune hepatitis) và viêm gan u hạt (granulomatous hepatitis)

Viêm gan do rượu thường xẩy ra sau cả chục năm sau khi một người trở thành nghiện rưọu, và đôi khi bộc phát chỉ sau một năm nhưng trường hợp này rất hiếm

Viêm gan do độc tố/thuốc xẫy ra khi một người hít phải hoặc nuốt phải một độc tố như carbon tetrachloride, vinyl chloride, các nấm độc hoặc một vài loại dươc phẩm. Nhiểu loại dược phẩm đươc sử dụng rộng răi có thể tác hại lên gan như : Ionazid (thuốc trị bệnh lao phổi), methyldopa( thuốc trị cao huyết áp), acetaminophen (thuốc giảm đau), trụ sinh (như erythromycin, chlorpromazine), thuốc uống ngừa thai và steroid đồng hoá

Viêm gan tự miễn dich xẫy ra khi gan bị tấn công bời chính hệ miễn dịch của cơ thề

Viêm gan u hạt xẩy ra khi các tế bào máu trắng tụ bất thường trong gan

 

Bài đọc thêm

Bài thuốc chữa bệnh viêm gan B và C

Thuốc mới để tiêu diệt vi-rút Hepatitis B