Măng cầu xiêm: liệu pháp chữa ung thư

Một nghiên cứu gần đây về nước ép từ trái măng cầu xiêm (sour sop)cho thấy: loại nước ép này là một liệu pháp chữa ung thư an toàn và hiệu quả, hoàntoàn từ thiên nhiên nên không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc. Bảo vệ hệ thống miễn dịch của bạn, tránh được một số bệnh truyền nhiễm..Giúp bạn thấy mạnh khỏe hơn trong quá tŕnh chữa ung thư hay các bệnh khác. Tăng năng lượng và giúp bạn thấy lạc quan hơn.  Nước ép này có thể tiêu diệt các tế bào của 12 loại ung thư.,như ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và ung thư tuyến tụy.. Làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư nhanh gấp 10 000 lần so với Adriamycin (một loại thuốc dùng trong liệu pháp hóa trị chữa ung thư). Nước ép này không làm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh

Các nghiên cứu vể măng cẩu xiêm đă  được thực hiện bởi nhiều pḥng thí nghiệm từ  năm 1970,nhưng chỉ  mới  được phỗ biến trên tạp chí Journal  of Natural Products, Đại hàn

Dưới đây là một số điều nên biết vể măng cẩu xiêm do dược sị Trần Việt Hưng tŕnh bày

Măng cầu xiêm là một trái cây nhiệt đới rất thường gặp trong vùng Nam Mỹ và Đông Ấn (West Indies). Đây cũng là một trong những cây đầu tiên được đưa từ Mỹ châu về lục địa ‘Cựu Thế Giới’, và măng cầu xiêm sau đó được trồng rộng răi suốt từ khu vực Đông Nam Trung Hoa sang đến Úc và những vùng b́nh nguyên tại Đông và Tây Phi châu.

Măng cầu xiêm có tên khoa học là Annona muricata thuộc họ thực vật Annonaceae.( Annona, phát xuất từ tên tại Haiti, anon, nghĩa là thu-hoạch của năm ‘muricata’ có nghĩa l à mặt bên ngoài sần lên, có những mũi nhọn).

Các tên thông thường: Soursop (Anh-Mỹ), Guanabana, Graviola, Brazilian Paw Paw, Corossolier (Pháp), Guanavana, Durian benggala Nangka londa.

Đặc tính thực vật:

Măng cầu xiêm thuộc loại tiểu mộc, có thể cao 6-8 m. Vỏ thân có nhiều lỗ nhỏ màu nâu. Lá h́nh trái xoan, thuôn thành ngọn giáo, mọc so le. Lá có mùi thơm. Phiến lá có 7-9 cặp gân phụ. Hoa mọc đơn độc ở thân hay nhánh già; hoa có 3 lá đài nhỏ màu xanh, 3 cánh ngoài màu xanh-vàng, và 3 cánh trong màu vàng. Nhị và nhụy hoa tạo thành 1 khối tṛn, Trái thuộc loại trái mọng kép, lớn, h́nh trứng ph́nh dài 20-25 cm, màu xanh lục hay vàng xanh, khi chín quá mức sẽ đổi sang vàng. Trái có thể kết tại nhiều vị trí khác nhau trên thân, cành hay nhánh con, và có thể cân nặng đến 5kg (15 lb). Vỏ rất mỏng, bên ngoài có những nốt phù thành những múi nhỏ nhọn hay cong, chứa nhiều hạt màu đen. Trái  thường được thu hái lúc c̣n xanh, cứng và ăn ngon nhất vào lúc 4-5 ngày sau khi hái, lúc đó quả trở thành mềm vừa đủ để khi nhấn nhẹ ngón tay vào sẽ có một vết lơm. Phần thịt của tr ái màu trắng chia thành nhiều khối chứa hạt nhỏ.


Thành phần dinh dưỡng và hóa học:

100 gram phần thịt của trái măng c
ầu xiêm, bỏ hạt, chứa:
- Calories 53.1-61.3
- Chất đạm 1 g
- Chất béo 0.97 g
- Chất sơ 0.79 g
- Calcium 10.3 mg
- Sắt 0.64 mg
- Magnesium 21 mg
- Phosphorus 27.7 mg
- Potassium 287 mg
- Sodium 14 mg
- Beta-Carotene (A) 2 IU
- Thiamine 0.110 mg
- Riboflavine 0.050 mg
- Niacin 1.280 mg
- Pantothenic acid 0.253 mg
- Pyridoxine 0.059 mg
- Vitamin C 29.6 mg

Lá măng c
ầu xiêm chứa các acetogenins loại monotetrahydrofurane như annopentocins A, B và C; Cis và Trans-annomuricin-D-ones(4, 5), Muricoreacin, Muricohexocin… ngoài ra c̣n có tannin, chất nhựa resin.

Trái măng c
ầu xiêm chứa các alkaloids loại isoquinoleine như: annonaine, nornuciferine và asimilobine.

Hạt chứa khoảng 0.05 % alcaloids trong đó 2 chất chính là muricin và muricinin. Nghiên cứu tại ĐH Bắc Kinh (2001) ghi nhận hạt có chứa các acetogenins: Muricatenol, Gigantetrocin-A, -B, Annomontacin, Gigante tronenin. Trong hạt c̣n có các hỗn hợp N-fatty acyl tryptamines, một lectin có ái lực mạnh với glucose/mannose; các galactomannans..


Vài phương thức sử dụng:

Măng cầu xiêm được dùng làm thực phẩm tại nhiều nơi trên thế giới. Tên soursop, cho thấy quả có thể có vị chua, tuy nhiên độ chua thay đổi, tùy giống, có giống khá ngọt để ăn sống được, có giống phải ăn chung với đường. Trái chứa nhiều nước, nên thường dùng để uống hơn là ăn! Như tại Ba Tây có món Champola, tại Puerto Rico có món Carato là những thức uống theo kiểu ‘nuớc sinh tố’ ở Việt Nam: măng cầu xay chung với sữa, nước (tại Philippines, c̣n pha thêm màu xanh, đỏ như sinh tố pha si-rô ở Việt Nam)

Măng cầu xiêm (lá, rễ và hạt) được dùng làm thuốc tại rất nhiều nơi trên thế-giới, nhất là tại những quốc gia Nam Mỹ:

Tại Peru, trong vùng núi Andes, lá măng cầu được dùng làm thuốc trị cảm, xổ mũi; hạt nghiền nát làm thuốc trừ sâu bọ; trong vùng Amazon, vỏ cây và lá dùng trị tiểu đường, làm dịu đau, chống co giật.

Tại Guyana: lá và vỏ cây, nấu thành trà dược giúp trị đau và bổ tim.

Tại Ba Tây, trong vùng Amazon: lá nấu thành trà trị bệnh gan; dầu ép từ lá và trái c̣n non, trộn với dầu olive làm thuốc thoa bên ngoài trị thấp khớp, đau sưng gân cốt.

Tại Jamaica, Haiti và West Indies: trái hay nước ép từ trái dùng trị nóng sốt, giúp sinh sữa và trị tiêu chảy; vỏ thân cây và lá dùng trị đau nhức, chống co-giật, ho, suyển.

Tại Ấn Độ, cây được gọi theo tiếng Tamilnadu là mullu-chitta: quả dùng chống thi
ếu vitamin C ( scorbut); hạt gây nôn mửa và làm se da.

Tại Việt Nam, hạt được dùng như hạt na, nghiền nát trong nước, lấy nước gột đầu để trị chí rận. Một phương thuốc Nam khá phổ biến để trị huyết áp cao là dùng vỏ trái hay lá măng cầu xiêm, sắc chung với rễ nhàu và rau cần thành nước uống (bỏ bă) mỗi ngày.

Dược tính của măng cầu xiêm:

Các nhà khoa học đă nghiên cứu về dược tính của măng cầu xiêm từ 1940 và ly trích được nhiều hoạt chất. Một số các nghiên cứu sơ khởi được công bố trong khoảng thời gian 1940 đến 1962 ghi nhận vỏ thân và lá măng cầu xiêm có những tác dụng làm hạ huyết áp, chống co giật, làm giăn nở mạch máu, thư giăn cơ trơn khi thử trên thú vật. Đến 1991, tác dụng hạ huyết áp của lá măng cầu xiêm đă được tái xác nhận. Các nghiên cứu sau đó đă chứng minh được là dịch chiết từ lá, vỏ thân, rễ, chồi và hạt măng cầu xiêm có những tác dụng kháng sinh chống lại một số vi khuẩn gây bệnh, và vỏ cây có khả năng chống nấm.

Hoạt tính của các acetogenins:


Trong một chương tŕnh nghiên cứu về dược thảo của National Cancer Institute vào năm 1976, lá và chồi của măng cầu xiêm được ghi nhận là có hoạt tính diệt các tế bào của một số loại ung thư. Hoạt tính này được cho là do ở nhóm hợp chất, đặt tên là annonaceous acetogenins

Các nghiên cứu về acetogenins cho thấy những chất này có khả năng ức chế rất mạnh phức h
p I (Complex I) ở trong các hệ thống chuyển vận điện tử nơi ty lạp thể (mitochondria) kể cả của tế bào ung thư [ các cây của gia đ́nh Anonna có chứa nhiều loại acetogenins hoạt tính rất mạnh, một số có tác dụng diệt tế bào u-bướu ở nồng độ EC50 rất thấp, ngay ở 10-9 microgram/ mL.]

Trường Đại Học Purdue là nơi có nhiều nghiên cứu nhất về hoạt tính của gia đ́nh Annona, giữ hàng chục bản quyền về acetogenins, và công bố khá nhiều thí nghiệm lâm sàng về tác dụng của acetogenins trên ung thư, diệt bướu ung độc:

Một nghiên cứu năm 1998 ghi nhận một loại acetogenin trích từ măng cầu xiêm có tác dụng chọn lựa, diệt được tế bào ung thư ruột già loại adenocarcinoma, tác dụng này mạnh gấp 10 ngàn lần thu
ốc Adriamycin.

Theo các kết quả nghiên cứu tại Purdue th́: ‘các acetogenins từ annonaceae, là những acid béo có dây carbon dài từ 32-34, phối hợp với một đơn vị 2-propanol tại C-2 để tạo thành một ṿng lactone. Acetogenins có những hoạt tính sinh học như chống u-bướu, kích ứng miễn nhiễm, diệt sâu bọ, chống protozoa, diệt giun sán và kháng sinh. Acetogenins là những chất ức chế rất mạnh NADH:Ubiquinone oxidoreductase, vốn là một enzym căn bản cần thiết cho complex I đưa đến phàn ứng phosphoryl-oxid hóa trong mitochondria. Acetogenins tác dụng trực tiếp vào các vị trí ubiquinone-catalytic nằm trong complex I và ngay vào men glucose dehydrogenase của vi trùng. Acetogenins cũng ức chế men ubiquinone-kết với NADH oxidase, chỉ có nơi màng plasma của tế bào ung thư.(Recent Advances in Annonaceous Acetogenins-Purdue University -1997)

Các acetogenins Muricoreacin và Muricohexocin có những hoạt tính diệt bào khá mạnh trên 6 loại tế bào ung thư như ung thư ti
ền liệt tuyền (prostate)  loại adenocarcinoma (PC-3), ung thư lá lách loại carcinoma (PACA-2) (ĐH Purdue, West LaFayette, IN- trong Phytochemistry Số 49-1998)

Một acetogenin khác :Bullatacin có khả năng diệt được các tế bào ung thư đă kháng được nhiều thuốc dùng trong hóa-chất trị liệu, do ở hoạt tính ngăn chận sự chế tạo Adenosine triphosphate (ATP) cần thiết cho hoạt động của tế bào ung thư (Cancer Letter June 1997)

Các acetogenins trích từ lá Annomutacin, cùng các hợp chất loại annonacin-A-one có hoạt tính diệt được tế bào ung thư phổi ḍng A-549 (Journal of Natural Products Số Tháng 9-1995)

Các duợc tính khác:

Các alkaloid: annonaine, nornuciferineasimilobine trích được từ trái có tác dụng an thần và trị đau: Hoạt tính này do ở khả năng ức chế sự nối kết của [3H] rauwolscine vào các thụ thể 5-HT1A nằm trong phần yên của năo bộ. (Journal of Pharmacy and Pharmacology Số 49-1997).

Dịch chiết từ trái bằng ethanol có tác dụng ức chế được siêu vi khu
ẩn Herpes Simplex (HSV-1) ở nồng độ 1mg/ml (Journal of Ethnophar macology Số 61-1998).

Các dịch chiết bằng hexane, ethyl acetate và methanol từ trái đều có những hoạt tính diệt được kư sinh trùng Leishmania braziliensis và L.panamensis (tác dụng này c̣n mạnh hơn cả chất Glucantime dùng làm tiêu chuẩn đối chiếu). Ngoài ra các acetogenins cô lập được annonacein, annonacin A và annomuricin A có các hoạt tính gây độc hại cho các tế bào ung thư ḍng U-937 (Fitotherapia Số 71-2000).

Thử nghiệm tại Đại học Universidade Federal de Alagoas, Maceio-AL, Ba Tây ghi nhận dịch chiết từ lá bằng ethanol có khả năng diệt được nhuyến thể (ốc-ṣ) loài Biomphalaria glabrata ở nồng độ LD50 = 8.75 ppm, và có thêm đặc điểm là diệt được các tụ khối trứng của sên (Phytomedicine Số 8-2001).

Một lectin loại glycoproteine chứa 8% carbohydrate, ly trích từ hạt có hoạt tính kết tụ hồng huyết cầu của người, ngỗng, ngựa và gà, đồng thời ức chế được sự tăng trưởng của các nấm và mốc loại Fusarium oxysoporum, Fusarium solani và Colletotrichum musae (Journal of Protein Chemistry Số 22-2003)

Măng cầu xiêm có liên hệ với  bệnh Parkinson:

Tại vùng West Indies thuộc Pháp, nhất là ở Guadaloupe có t́nh trạng xảy ra bất thường về con số các bệnh nhân bị bệnh Parkinson, loại kháng-levo dopa: những bệnh nhân này đều tiêu thụ một lượng cao, và trong một thời gian lâu dài soursop hay măng cầu xiêm (A.muricata).

Những nghiên cứu sơ khởi trong năm 1999 (công bố trên tạp chí Lancet Số 354, ngày 23 tháng 10 năm 1999) trên 87 bệnh nhân đưa đến kết luận là rất có thể có sự liên hệ giữa dùng nhiều măng cầu xiêm, vốn có chứa các alkaloids loại benzyltetrahydroisoquinoleine độc hại về thần kinh. Nhóm bệnh nhân có những triệu chứng Parkinson không chuyên biệt (atipycal), gồm 30 người dùng khá nhiều măng cầu trong cách ăn uống hàng ngày.

Nghiên cứu sâu rộng hơn vào năm 2002, cũng tại Guadeloupe, nhằm vào nhóm bệnh nhân Parkinson (atypical) cho thấy khi tách riêng các tế bào thần kinh (neuron) loại mesencephalic dopaminergic và cấy trong môi trường có chứa dịch chiết toàn phần rễ măng cầu xiêm, hoặc chứa các hoạt chất cô lập như coreximinine, reticuline, có các kết quả như sau: Sau 24 giờ tiếp xúc: 50% các tế bào thần kinh cấy bị suy thoái ở nồng độ 18 microg/ml dịch chiết toàn phần; 4.3 microg/ml coreximine và 100 microg/ml reticuline.

Nghiên cứu này đưa đến kết luận là những alkaloids trích từ măng cầu xiêm có thể có tác dụng điều hợp chức năng cùng sự thay đổi để sinh tồn của các tế bào thần kinh dopaminergic trong các thử nghiệm ‘in vitro’; và rất có thể có những liên hệ tác hại giữa việc dùng măng cầu xiêm ở lượng cao và liên tục với những suy thoái về tế bào thần kinh. Do đó bệnh nhân Parkinson, do yếu tố an toàn nên tránh ăn măng cầu xiêm! (Movement Disorders Số 17-2002).

Độc tính và liều lượng:

Theo tài liệu của Herbal Secrets of the Rain Forest:
Liều trị liệu của lá (cũng chứa lượng acetrogenins khá cao, so với rễ và hạt) là 2-3 gram chia làm 3-4 lần/ngày. Trên thị trường Hoa Kỳ có một số chế phẩm, mang tên Graviola, dưới các dạng viên nang (capsule) và c
ồn thuốc (tincture).

 

 

 

 


Không nên dùng các chế phẩm làm từ lá, rễ và hạt măng cầu xiêm (phần thịt của quả không bị hạn chế) trong các trường hợp:


- Có thai: do hoạt tính gây co th𓀟t tử cung khi thử trên chuột.
- Huyết áp cao: Lá, rễ và h𓀑t có tác dụng gây hạ huyết áp, ức chế tim, người dùng thuốc trị áp huyết cần bàn với BS điều trị.
- Khi dùng lâu dài các chế phẩ;m Graviola có thể gây các rối loạn về vi sinh vật trong đường ruột.
- Một số trường h&##7907;p bị ói mửa, buồn nôn khi dùng Graviola, trong trường hợp này nên giảm bớt liều sử dụng.
- Không nên dùng Graviola chung với CoEnzyme Q 10 (một trong những cơ chế hoạt động của acetogenins là ngăn chặn sự cung cấp ATP cho tế bào ung thư, và CoEnzym Q.10 là một chất cung cấp ATP), uống chung sẽ làm giảm công hiệu của cả 2 loại.

 

Bài đọc thêm