Ng̣ gai trị bệnh ho rất công hiệu

                                                            bài thuốc của thầy Pham đ́nh Huy

Nếu đă uống mọi thuốc mà không hết ho th́ ra chợ mua ít lá ng̣ gai ăn phở, cũng nấu uống như nước trà, uống ngày 3-4 lần là khỏi, rất hiệu nghiệm. Bài thuốc này đă thí nghiệm trên một số ngưởi đều mỹ măn

Vậy ng̣ gai là loại thảo mộc rasao?

 

 

 

 

Ng̣ gai, Eryngium foetidum, thuộc họ thực vật Apiaceae, được gọi tại miền Bắc Việt Nam dưới tên Mùi Tàu, mùi gai. Tại Trung Hoa, rau có tên Thích Nguyên tuy (Ci-yan sui), Dương Nguyên tuy (Yang yan sui) và Sơn Nguyên tuy (Shan yan sui). Tại Thái Lan, rau tên là pak chee farang (cây ng̣ ngoại quốc). Tại Hoa Kỳ, rau có khá nhiều tên, từ tên gốc tại Trung Mỹ như Culantro (đừng nhầm với cilantro), Stinkweed đến tên tượng h́nh nhất là Saw leaf herb. Tên tại Pháp: Chardon etoile (star thistle) hay Chardon étoile fetide, tại Đức: Stinkdistel. Tại Mexico, rau có những tên Culantro de burro, Culantro de coyote.

Ng̣ gai thuộc loại cây thân thảo mọc thẳng đứng, lưỡng niên. Rễ h́nh thoi; thân có khía, cao 20-40 cm, toàn cây có mùi khá hăng. Lá mọc tại gốc, h́nh mũi mác thuôn dài, nhẵn, lớn cỡ 10-20 cm x 2-3.5 cm. Lá không có cuống, mép khía với nhiều răng cưa có gai. Lá trên thân, càng lên càng nhỏ dần, có nhiều răng cưa hơn và gai sắc hơn. Hoa mọc thành cụm rẽ làm ba, rồi chia thành xim. Hoa không cuống, cánh hoa màu trắng-xanh. Trái nhỏ cỡ 2 mm, dẹt.


Thành phần hóa học:


1- Thành phần dinh dưỡng:
100 gram lá ng̣ gai chứa:
- Calories 31 ;
- Chất đạm 1.24 g; - Ch&##7845;t béo 0.20 g
- Các khoáng chất:  Calcium 49 mg; Magnesium. 17 mg; Phosphorus 50 mg
 Potassium 414 mg
- Các Vitamins: - B1 0.010 mg;  B2 0..032 mg;  B6 0.047 mg;  Vitamin C 120 mg

2- Hoạt chất:                                                                                                                                                                                  Hoạt chất chính trong ng̣ gai là những tinh dầu dễ bay hơi (0.02-0.04%) trong đó có các pyranocoumadins, các monoterpenes glycosides loại cyclohexanol, các aldehyd như 2,4,5-trimethylbenzaldehyde, decanal, furfural.. Ngoài ra c̣n có alpha-pinene, p-cymene; các acid hữu cơ như benzoic acid, capric acid..; các flavonoids.
Nhóm hoạt chất thứ nh́ mới được nghiên cứu trong phần trích bằng hexane là nhóm terpenic chứa alpha-cholesterol, brassicasterol, campe sterol, stigmasterol (phần chính, chiếm đến 95%), clerosterol, beta-sito sterol, delta 5-aveasterol..
Trong rễ có các Saponins loại triterpene, các esters của caffeic acid...

Dược tính và Công dụng:

Ng̣ gai được dân quê miền Đông Nam Hoa Kỳ trồng gần cửa ra vào v́ cho rằng mùi hăng của cây đuổi được rắn.
Người Việt, Trung Mỹ dùng làm gia vị, tăng hương vị cho càc món ăn như phở, canh chua , sofrito (Mễ). Khác với ng̣ tây và ng̣ ta, thường mất mùi khi khô, ng̣ gai khô vẫn giữ được mùi hăng.

Theo Đông Y, ng̣ gai có vị cay, hơi đắng; tính ấm, tác dụng vào các kinh mạch thuộc thuộc Phế với các tính cách sơ phong thanh nhiệt, kiện tỳ hành khí, tiêu thũng.

- Trị cảm mạo, đau ngực, ho và trẻ em lên sởi : Dùng 10-15 gram lá ng̣ gai, sắc trong nước ấm và uống.
- Trị ăn không tiêu, ৿n mất ngon: Uống 15 gram nước sắc lá ng̣ gai, hoặc ăn lá tươi trộn với dầu mè. Có thể dùng với Cam thảo nam để giúp dễ tiêu.
- Trị sưng đau té nggă: xay 15 gram lá, lấy nước cốt, trộn với rượu trắng và uống.  Đắp phần bă trên vết thương.
- Cùng với bồ kết tạo mùi thơm khi gội đầu.

Những nghiên cứu mới về ng̣ gai:
- Rễ ng̣ gai có khả n࣓ng trị các chứng sưng bàng quang, sạn thận và sưng đường tiểu. Cách dùng: Rễ phơi khô, tán thành bột, làm thành trà; dùng 1 th́a cà phê bột rễ, trong 30-40 ml nước, đun sôi, uống mỗi ngày 2-3 lần. Tác dụng này được xem là do những ester của caffeic acid như chlorogenic acid trong rễ.
- Tác dụng chống sư;ng viêm cấp tính và kinh niên: Nghiên cứu trên chuột tại Khoa Dược Đại học Universidad de Sevilla (Tây Ban Nha) ghi nhận khả năng chống sưng của phần trích bằng hexane từ lá ng̣ gai( tai chuôt  bị gây sưng phù bằng 12-0-tetradecanoylphorbol acetate (TPA)). Tác dụng chống sưng mạnh hơn stigmasterol và tương đối hiệu nghiệm trên các chứng sưng đỏ tại chỗ

Bài đọc thêm